Saturday, 7 April 2012

Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu dịch.
KINH DIỆU-PHÁP LIÊN HOA (1)
PHẨM “TỰA” THỨ NHẤT
Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ đức Phật (2) ở trong núi Kỳ-Xà Quật, nơi thành vương xá cùng chúng đại Tỳ-kheo một vạn hai ngàn người câu hội. Các vị đó đều là bậc A-La-Hán, các lậu (3) đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong (4) dứt sự ràng buộc trong các cõi (5) tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A-Nhã Kiều-Trần-Như, Ma-Ha Ca-Diếp, Ưu-Lâu-Tần-Loa Ca-Diếp, Dà-Gia Ca-Diếp, Na-Đề Ca-Diếp, Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Ma-Ha Ca-Chiên-Diên, A-Nậu-Lâu-Đà, Kiếp-Tân-Na, Kiều-Phạm Ba-Đề, Ly-Bà-Đa Tất-Lăng-Già-Bà-Ta-Bạc-Câu-La, Ma-Ha-Câu-Hy-La, Nan-Đà, Tôn-Đà-La Nan-Đà, Phú-Lâu-Na, Di-Đa-La-Ni-Tử, Tu-Bồ-Đề, A-Nan, La-Hầu-La v.v.. đó là những vị đại A-la-hán hàng tri thức của chúng.
Lại có bậc hữu-học và vô-học (6) hai ngàn người.
Bà Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-Xà-Ba-Đề cùng với quyến thuộc sáu ngàn người câu-hội. Mẹ của La-Hầu-La là bà Tỳ -kheo-ni Gia-Du-Đà-La cùng với quyến thuộc câu-hội.
Bậc đại Bồ-Tát tám muôn người đều không thối chuyển ở nơi đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác(7) , đều chứng được pháp Đà-la-ni (8) nhạo-thuyết biện tài (9) chuyển nói pháp luân bất thối chuyển, từng cúng dường vô lượng trăm nghìn chư Phật, ở các nơi đức Phật trồng các cội công-đức.Thường được các Phật ngợi khen, dùng đức từ để tu thân, khéo chứng trí tuệ của Phật thông đạt đại-trí đến nơi bờ kia (10) , danh đồn khắp vô lượng thế-giới có thể độ vô số trăm ngàn chúng sanh.
Tên của các vị đó là: Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát. Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, Đắc-Đại-Thế-Chí Bồ-Tát, Thường-Tinh-Tấn Bồ-Tát, Bất-Hưu Tức Bồ-Tát, Bửu-Chưởng Bồ-Tát, Dược-Vương Bồ-Tát, Dõng-thí Bồ-Tát. Bửu-Nguyệt Bồ-Tát, Nguyệt-Quang Bồ-Tát, Mãn-Nguyệt Bồ-Tát, Đại-Lực Bồ-Tát, Vô-Lượng-Lực Bồ-Tát, Việt-Tam-Giới Bồ-Tát, Bạt-Đà Bà-La Bồ-Tát, Di-Lặc Bồ-Tát, Bửu-Tích Bồ-Tát, Đạo-Sư Bồ-Tát v.v… các vị đại Bồ-Tát như thế tám vạn người câu hội.
Lúc bấy giờ, Thích-Đề Hoàn-Nhơn (11) cùng quyến thuộc hai vạn vị thiên-tử câu hội. Lại có Minh-Nguyệt thiên tử, Phổ-Hương thiên tử, Bửu-Quang thiên-tử, bốn vị đại Thiên-Vương cùng với quyến-thuộc một vạn thiên-tử câu hội.
Tự-Tại thiên-tử, Đại-Tự-Tại thiên-tử cùng với quyến thuộc ba vạn thiên-tử câu hội.
Chủ cõi Ta-Bà: Phạm-Thiên-Vương, Thi-Khí-Đại-Phạm, Quang-Minh Đại-Phạm v.v…cùng với quyến thuộc một vạn hai ngàn vị thiên-tử câu hội.
Có tám vị Long-vương: Nan-Đà Long-vương, Bạt-Nan-Đà Long-vương, Sa-Dà-La Long-vương, Hòa-Tu-Cát Long-vương, Đức-Xoa-Ca Long-vương, A Na-Bà-Đạt-Đa Long-vương, Ma-Na-Tư Long-vương, Ưu-Bát-La Long-vương v.v… đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.
Có bốn vị Khẩn-Na-La vương, Pháp-Khẩn-Na-La vương, Diệu-Pháp Khẩn-Na-La vương, Đại-Pháp Khẩn-Na-La vương, Trì-Pháp Khẩn-Na-La vương đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến-thuộc câu hội.
Có bốn vị Càn-Thát-Bà vương: Nhạc-Càn-Thát-Bà vương, Nhạc-Âm-Càn-Thát-Bà vương, Mỹ Càn-Thát-Bà vương, Mỹ-Âm Càn-Thát-Bà vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến-thuộc câu hội.
Có bốn vị A-Tu-La vương: Bà-Trĩ A-Tu-La vương, Dà-La-Khiên-Đà A-Tu-La vương, Tỳ-Ma-Chất-Đa-La A-Tu-La vương, La-Hầu A-Tu-La vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến-thuộc câu hội.
Có bốn vị Ca-Lâu-La vương: Đại-Oai-Đức Ca-Lâu-La vương, Đại-Thân Ca-Lâu-La vương, Đại-Mãn Ca-Lâu-La vương, Như-Ý Ca-Lâu-La vương, đều cùng bao nhiêu quyến thuộc câu hội.
Vua A-Xà-Thế, con bà Vi-Đề-Hi, cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội.
Cả chúng đều lễ chân Phật, lui ngồi một phía.
Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn, hàng tứ chúng vây quanh cúng-dường cung kính ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ-Tát mà nói kinh Đại-thừa tên là: “Vô-Lượng-Nghĩa”, là pháp giáo hoá Bồ-Tát được chư Phật hộ-niệm. Nói kinh này xong, đức Phật ngồi xếp bằng nhập vào chánh định “Vô-Lượng Nghiã-Xứ”, thân và tâm của Phật đều không lay động.
Khi đó trời mưa hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa, hoa Ma-ha Mạn-thù-sa, để rải trên đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi Phật sáu điệu vang động (12) .
Lúc bấy giờ, trong chúng hội, các hàng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ, Trời, Rồng, Dạ-Xoa, Càn-thát-bà (13) , A-tu-la (14) , Ca-lâu-la (15) , Khẩn-na-la (16) , Ma-hầu-la-dà (17) , nhơn, phi-nhơn và các vị tiểu-vương cùng Chuyển-luân-thánh-vương, các đại chúng ấy đều được thấy việc chưa từng có, vui mừng chắp tay một lòng nhìn Phật.
Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ra luồng hào-quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A-Tỳ, trên suốt thấu trời Sắc-cứu-cánh. Chúng ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng-sanh (18) , ở các cõi kia.
Lại thấy các đức Phật hiện tại nơi các cõi kia và nghe kinh pháp của các đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cõi kia, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ, những người tu hành đắc đạo.
Lại thấy các vị đại Bồ-Tát dùng các món nhân duyên, các lòng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ-Tát. Lại thấy các đức Phật nhập Niết-bàn, lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn, đem xá-lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu.
Khi ấy, ngài Di-Lặc Bồ-Tát nghĩ rằng: “Hôm nay đức Thế-Tôn hiện thần biến tướng, vì nhân duyên gì mà có điềm lành này.
Nay đức Phật đương nhập chánh định, việc biến hiện hi hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được?”
Ngài lại nghĩ : “Ông Pháp-Vương-tử (19) Văn-Thù Sư-Lợi này đã từng gần gũi cúng dường vô lượng các đức Phật đời quá khứ chắc đã thấy tướng hi hữu này, ta nay nên hỏi ông”.
Lúc đó, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ (20) và các trời, rồng, quỉ, thần v.v.. đều nghĩ rằng : “Tướng thần thông sáng chói của đức Phật hiện đây, nay nên hỏi ai?”
Bấy giờ, ngài Di-Lặc Bồ-Tát muốn giải quyết chỗ nghi của mình, ngài lại xét tâm niệm của bốn-chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ và của cả chúng hội trời, rồng, quỉ, thần v.v.. mà hỏi Văn-Thù Sư-Lợi rằng: ?Vì nhân duyên gì mà có tướng lành thần thông này, Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các đức Phật??
Khi đó, ngài Di-Lặc muốn nói lại nghĩa trên, dùng kệ hỏi rằng:
Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!
Đức Đạo-Sư cớ chi
Lông trắng giữa chặn mày
Phóng ánh sáng khắp soi?
Trời mưa hoa Mạn-đà
Cùng hoa Mạn-thù-Sa,
Gió thơm mùi chiên đàn
Vui đẹp lòng đại chúng
Vì nhân duyên như vậy
Cõi đất đều nghiêm tịnh
Mà trong thế giới này
Sáu điệu vang động lên
Bấy giờ bốn bộ chúng
Thảy đều rất vui mừng
Thân cùng ý thơ thới
Được việc chưa từng có.
Ánh sáng giữa chặn mày
Soi suốt thẳng phương Đông
Một muôn tám nghìn cõi
Đều ánh như sắc vàng.
Từ địa ngục A-tỳ
Trên đến trời Hữu-Đảnh
Trong các thế giới đó
Cả sáu đạo chúng sanh
Sống chết của kia đến
Nghiệp duyên lành cùng dữ
Thọ báo có tốt xấu
Tại đây đều thấy rõ.
Lại thấy các đức Phật
Đấng Thánh-Chúa sư-tử
Diễn nói các kinh điển
Nhiệm mầu bậc thứ nhất.
Tiếng của Ngài thanh-tịnh
Giọng nói ra êm dịu
Dạy bảo các Bồ-Tát
Vô-số ức muôn người
Tiếng Phạm-âm thâm diệu
Khiến người đều ưa nghe.
Các Phật ở cõi mình
Mà giảng nói chánh pháp
Dùng nhiều món nhân duyên
Cùng vô lượng tỉ dụ
Để soi rõ Phật Pháp
Mà khai ngộ chúng sanh.
Nếu có người bị khổ
Nhàm lìa già, bệnh, chết,
Phật vì nói Niết-bàn
Để dứt các ngằn khổ
Nếu là người có phước
Đã từng cúng dường Phật
Chí cầu pháp thù thắng
Vì nói hạnh Duyên-giác
Nếu lại có Phật tử
Tu-tập các công hạnh
Để cầu tuệ vô thượng
Phật vì nói tịnh đạo.
Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!
Tôi ở tại nơi đây
Thấy nghe dường ấy đó
Và nghìn ức việc khác
Thấy rất nhiều như thế
Nay sẽ lược nói ra:
Tôi thấy ở cõi kia
Có hằng sa Bồ-Tát
Dùng các món nhân duyên
Mà cầu chứng Phật đạo.
Hoặc có vị bố-thí
Vàng, bạc, ngọc, san-hô,
Chơn châu, ngọc như-ý,
Ngọc xa-cừ mã-não,
Kim-cương các trân-bửu
Cùng tôi tớ, xe cộ
Kiệu, cán chưng châu báu
Vui vẻ đem bố thí
Hồi hướng về Phật đạo
Nguyện được chứng thừa ấy
Bậïc nhất của ba cõi
Các Phật hằng khen ngợi.
Hoặc có vị Bồ-Tát
Xe tứ mã xe báu
Bao lơn che tàn đẹp
Trau tria dùng bố thí.
Lại thấy có Bồ-Tát
Bố thí cả vợ con
Thân thịt cùng tay chân
Để cầu vô thượng đạo.
Lại thấy có Bồ-Tát
Đầu, mắt và thân thể
Đều ưa vui thí cho
Để cầu trí tuệ Phật
Ngài Văn-Thù Sư Lợi!
Ta thấy các Quốc-vương
Qua đến chỗ của Phật
Thưa hỏi đạo vô thượng
Bèn bỏ nước vui vẻ
Cung điện cả thần thiếp
Cạo sạch râu lẫn tóc
Mà mặc y pháp phục.
Hoặc lại thấy Bồ-Tát
Mà hiện làm Tỳ-kheo
Một mình ở vắng vẻ
Ưa vui tụng kinh điển
Cũng thấy có Bồ-Tát
Dõng mãnh và tinh tấn
Vào ở nơi thâm sơn
Suy xét mối Phật đạo
Và thấy bậc ly dục
Thường ở chỗ không nhàn
Sâu tu các thiền định
Được năm món thần thông
Và thấy vị Bồ-Tát
Chắp tay trụ thiền định
Dùng ngàn muôn bài kệ
Khen ngợi các Pháp-vương
Lại thấy có Bồ-Tát
Trí sâu chí bền chắc
Hay hỏi các đức Phật
Nghe rồi đều thọï trì.
Lại thấy hàng Phật tử
Định huệ trọn đầy đủ
Dùng vô lượng tỉ dụ
Vì chúng mà giảng pháp
Vui ưa nói các pháp
Dạy bảo các Bồ-Tát
Phá dẹp chúng binh ma
Mà đánh rền trống pháp
Cùng thấy vị Bồ-Tát
Vắng bặt yên lặng ngồi
Trời, rồng đều cung-kính
Chẳng lấy đó làm mừng,
Và thấy có Bồ-Tát
Ở rừng phóng hào quang
Cứu khổ chốn địa ngục
Khiến đều vào Phật đạo.
Lại thấy hàng Phật tử
Chưa từng có ngủ nghỉ
Kinh hành ở trong rừng
Siêng năng cầu Phật đạo
Cũng thấy đủ giới đức
Uy nghi không thiếu sót
Lòng sạch như bảo châu
Để cầu chứng Phật đạo.
Và thấy hàng Phật tử
Trụ vào sức nhẫn nhục
Bị kẻ tăng-thượng-mạn
Mắng rủa cùng đánh đập
Thảy đều hay nhẫn được
Để cầu chứng Phật đạo
Lại thấy có Bồ-Tát
Xa rời sự chơi cười
Và quyến thuộc ngu si
Ưa gần gũi người trí
Chuyên tâm trừ loạn động
Nhiếp niệm ở núi rừng
Trải ức nghìn muôn năm
Để cầu được Phật đạo.
Lại thấy vị Bồ-Tát
Đồ ăn uống ngọt ngon
Cùng trăm món thuốc thang
Đem cúng Phật và Tăng,
Áo tốt đồ thượng phục
Giá đáng đến nghìn muôn
Hoặc là vô giá y
Dùng nghìn muôn ức thứ
Nhà báu bằng Chiên đàn
Các giường nằm tốt đẹp
Để cúng Phật cùng Tăng
Rừng vườn rất thanh tịnh
Bông trái đều sum sê
Suối chảy cùng ao tắm
Cúng cho Phật và Tăng,
Cúng thí như thế đó
Các đồ cúng tốt đẹp
Vui vẻ không hề nhàm
Để cầu đạo vô thượng.
Lại có vị Bồ-Tát
Giảng nói pháp tịch diệt
Dùng các lời dạy dỗ
Dạy vô số chúng sanh
Hoặc thấy vị Bồ-Tát
Quán sát các pháp tịnh
Đều không có hai tướng
Cũng như khoảng hư không
Lại thấy hàng Phật tử
Tâm không chỗ mê đắm
Dùng món diệu huệ này
Mà cầu đạo vô thượng.
Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!
Lại có vị Bồ-Tát
Sau khi Phật diệt độ
Cúng dường Xá-Lợi-Phật.
Lại thấy hàng Phật tử
Xây dựng các tháp miếu
Nhiều vô số hằng sa
Nghiêm sức khắp cõi nước.
Bảo tháp rất cao đẹp
Đều năm nghìn do tuần.
Bề ngang rộng xứng nhau
Đều hai nghìn do tuần.
Trong mỗi mỗi tháp miếu
Đều có ngàn tràng phan
Màn châu xen thả xuống
Tiếng linh báu hòa reo
Các vị trời, rồng, thần,
Người cùng với phi nhơn
Hương, hoa, cùng kỹ nhạc
Thường đem đến cúng dường
Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!
Các hàng Phật tử kia
Vì cúng dường xá-lợi
Nên trang sức tháp miếu,
Cõi quốc giới tự nhiên
Thù đặc rất tốt đẹp
Như cây Thiên-thụ-vương
Hoa kia đang xòe nở
Phật phóng một luồng sáng
Ta cùng cả chúng hội
Thấy nơi cõi nước này
Các thứ rất tốt đẹp
Thần lực của chư Phật
Trí huệ đều hi hữu
Phóng một luồng tịnh-quang
Soi khắp vô lượng cõi
Chúng ta thấy việc này
Được điều chưa từng có.
Xin Phật tử Văn-Thù
Giải quyết lòng chúng nghi
Bốn chúng đều mong ngóng
Nhìn ngài và nhìn ta
Đức Thế-Tôn cớ chi
Phóng ánh quang minh này?
Phật tử phải thời đáp
Quyết nghi cho chúng mừng
Có những lợi ích gì
Đức Phật phóng quang này?
Khi Phật ngồi đạo tràng
Chứng được pháp thâm diệu
Vì muốn nói Pháp đó
Hay là sẽ thọ ký?
Hiện bày các cõi Phật
Các báu sạch trang nghiêm
Cùng thấy các đức Phật
Đây không phải cớ nhỏ
Ngài Văn-Thù nên biết
Bốn chúng và Long, Thần
Nhìn xem xét ngài đó
Mong sẽ nói những gì?
Lúc bấy giờ, ngài Văn-Thù Sư-Lợi nói với ngài Di-Lặc Đại Bồ-Tát cùng các vị Đại-sĩ: “Các Thiện-nam-tử! Như chỗ tôi xét nghĩ thì nay đức Phật Thế-Tôn muốn nói pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn và diễn pháp nghĩa lớn.
Các thiện-nam-tử! Ta từng ở nơi các đức Phật đời quá khứ thấy điềm lành này, Phật kia phóng hào quang đó rồi liền nói pháp lớn. Cho nên chắc biết rằng hôm nay đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Phật vì muốn cho chúng sanh đều được nghe biết pháp mầu mà tất cả trong đời khó tin theo, cho nên hiện điềm lành này.
Các thiện-nam-tử! Như vô lượng vô biên a-tăng-kỳ (21) kiếp về trước. Bấy giờ có đức Phật hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh Như-Lai, Ứng-cúng, Chính-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự Trượng-phu, Thiên-Nhâân-Sư, Phật Thế-Tôn, diễn nói chánh pháp. Ban đầu, giữa, rốt sau ba chặng đều lành, nghĩa lý rất sâu xa, lời lẽ khéo mầu, thuần một không tạp, đầy đủ cả tướng phạm hạnh thanh bạch.
Phật, vì người cầu đạo Thanh-văn, nói pháp Tứ-đế (22) thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, cứu cánh Niết-bàn. Vì hạng cầu quả Duyên-giác, nói pháp Mười-hai-nhân-duyên (23) , vì hàng Bồ-Tát nói sáu pháp Ba-la-mật (24) làm cho chứng được quả vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác thành bậc nhứt- thiết chủng-trí. (25)
Kế lại có đức Phật cũng hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh, lại có đức Phật cũng hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh. Như thế đến hai muôn đức Phật đều đồng một tên, hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh, lại cùng đồng cùng một họ, họ Phả-La-Đọa.
Di-Lặc nên biết! Đức Phật trước, đức Phật sau đều đồng một tên, hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh, đầy đủ mười hiệu, những pháp được nói ra, đầu, giữa, sau đều lành.
Đức Phật rốt sau cả, lúc chưa xuất-gia có tám vị vương- tử: Người thứ nhất tên Hữu-Ý, thứ hai tên Thiện-Ý, thứ ba tên Vô-Lượng-Ý, thứ tư tên Bửu-Ý, thứ năm tên Tăng-Ý, thứ sáu tên Trừ-Nghi-Ý, thứ bảy Hưởng-Ý, thứ tám tên Pháp-Ý.
Tám vị vương- tử đó có uy đức tự tại đều lãnh trị bốn châu thiên hạ (26) . Nghe vua cha xuất gia chứng đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác đều bỏ ngôi vua cũng xuất-gia theo, phát tâm Đại thừa, thường tu hạnh thanh tịnh, đều làm bậc pháp sư, thuở trước đã từng ở chỗ nghìn muôn đức Phật vun trồng các cội lành.
Đức Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh lúc đó nói kinh Đại thừa tên “Vô-Lượng Nghĩa-Xứ” là pháp giáo hoá Bồ-Tát được chư Phật hộ niệm. Nói kinh đó rồi, Phật liền ở trong đại chúng ngồi xếp bằng nhập vào cảnh chánh định “Vô-Lượng Nghĩa-Xứ”, thân và tâm chẳng động.
Khi ấy trời mưa hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa cùng hoa Ma-ha Mạn-thù-sa để rải trên đức Phật và hàng đại-chúng. Khắp cõi nước Phật sáu điệu vang động. Lúc đó trong hội, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự nam, cận-sự nữ, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhơn, phi-nhơn cùng các vị tiểu vương, các vị Chuyển-luân thánh-vương v.v… các đại-chúng đó được điều chưa từng có, mừng rỡ chắp tay một lòng nhìn Phật.
Bấy giờ, đức Như-Lai từ tướng lông trắng chặn giữa chân mày phóng ra luồng ánh sáng soi khắp cùng cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương đông, như nay đương thấy ở cõi Phật đây.
Di-Lặc nên biết! Khi đó trong hội, có hai mươi ức Bồ-Tát ưa muốn nghe pháp, các vị Bồ-Tát ấy thấy ánh sáng chiếu khắp các cõi Phật được điều chưa từng có, đều muốn biết vì duyên cớ gì mà phóng ánh-sáng này.
Khi ấy, có vị Bồ-Tát hiệu Diệu-Quang có tám trăm người đệ-tử.
Bấy giờ, đức Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh từ trong chánh-định mà dậy, vì Diệu-Quang Bồ-Tát nói kinh Đại-thừa tên “Diệu-Pháp Liên-Hoa” là pháp giáo hoá Bồ-Tát được chư Phật hộ niệm, trải qua sáu mươi tiểu kiếp chẳng rời chỗ ngồi.
Lúc ấy trong hội, người nghe pháp cũng ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp thân tâm đều không lay động, nghe đức Phật nói pháp cho là như trong khoảng bữa ăn. Bấy giờ trong chúng không có một người nào hoặc là thân hoặc là tâm mà sanh lười mỏi.
Đức Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh trong sáu mươi tiểu kiếp nói kinh đó rồi, liền ở trong chúng Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, và Trời, Người, A-tu-la mà tuyên rằng : “Hôm nay vào nửa đêm, Như-Lai sẽ nhập Vô-dư Niết-bàn”.
Khi đó có vị Bồ-Tát, tên Đức-Tạng đức Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh liền thọ-ký (27) cho, bảo các Tỳ-kheo rằng : “Ông Đức-Tạng Bồ-Tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Tịnh-Thân Như-Lai Ứng-cúng, chánh-đẳng chánh-giác”.
Đức Phật thọ ký xong, vào nửa đêm bèn nhập Vô-dư Niết-bàn.
Sau khi đức Phật diệt-độ, Diệu-Quang Bồ-Tát trì kinh “Diệu-Pháp Liên-Hoa” trải tám mươi tiểu kiếp vì người mà diễn nói.
Tám người con của Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh đều học với ngài Diệu-Quang, ngài Diệu-Quang dạy bảo cho đều vững bền ở nơi đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Các vị Vương-tử đó cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật đều thành Phật-đạo. Vị thành Phật rốt sau hết, hiệu là Nhiên-Đăng.
Trong hàng tám trăm người đệ-tử có một người tên: Cầu-Danh, người này tham ưa danh lợi, dầu cũng đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất, nên gọi là Cầu-Danh. Người này cũng do có trồng các nhân duyên căn lành nên được gặp vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật mà cúng dường cung kính tôn trọng khen ngợi.
Di-Lặc nên biết! Lúc đó Diệu-Quang Bồ-Tát đâu phải người nào lạ, chính là ta đấy. Còn Cầu-Danh Bồ-Tát là ngài đấy.
Nay thấy điềm lành này, cùng với xưa không khác, cho nên ta xét nghĩ hôm nay đức Phật Như-Lai sẽ nói kinh Đại-thừa tên: “Diệu-Pháp Liên-Hoa”là pháp giáo hoá Bồ-Tát được chư Phật hộ niệm.
Bấy giờ, ngài Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát ở trong đại-chúng, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
Ta nhớ thuở quá khứ
Vô lượng vô số kiếp
Có Phật Nhân Trung-Tôn
Hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh
Đức Thế-Tôn nói pháp
Độ vô lượng chúng sanh
Vô số ức Bồ-Tát
Khiến vào trí huệ Phật.
Khi Phật chưa xuất gia
Có sanh tám vương-tử
Thấy Đại-Thánh xuất gia
Cũng theo tu phạm-hạnh
Phật nói kinh Đại-thừa
Tên là “Vô-Lượng-Nghĩa”
Ở trong hàng đại chúng
Mà vì rộng tỏ bày.
Phật nói kinh ấy rồi
Liền ở trong pháp tòa
Xếp bằng nhập chánh định
Tên “Vô-Lượng-Nghĩa-Xứ”
Trời rưới hoa Mạn-đà
Trống trời tự nhiên vang
Các trời, rồng, quỉ, thần
Cúng dường đấng Nhân-Tôn,
Tất cả các cõi Phật
Tức thời vang động lớn,
Phật phóng sáng giữa mày
Hiện các việc hi hữu
Aùnh sáng chiếu phương Đông
Muôn tám nghìn cõi Phật
Bày sanh tử nghiệp báo
Của tất cả chúng sanh
Lại thấy các cõi Phật
Dùng các báu trang nghiêm
Màu lưu ly pha lê
Đây bởi Phật quang soi.
Lại thấy những trời, người
Rồng, thần, chúng Dạ-xoa
Càn-thát, Khẩn-na-la
Đều cúng dường Phật mình
Lại thấy các Như-Lai
Tự nhiên thành Phật đạo,
Màu thân như núi vàng
Đoan nghiêm rất đẹp mầu
Như trong lưu ly sạch
Hiện ra tượng chơn kim
Thế-Tôn trong đại chúng
Dạy nói nghĩa thâm diệu.
Mỗi mỗi các cõi Phật
Chúng Thanh-văn vô số,
Nhân Phật-quang soi sáng
Đều thấy đại-chúng kia.
Hoặc có các Tỳ-kheo
Ở tại trong núi rừng
Tinh tấn giữ tịnh giới
Dường như gìn châu sáng
Lại thấy các Bồ-Tát
Bố thí nhẫn nhục thảy
Số đông như hằng sa (28)
Đây bởi sáng Phật soi.
Lại thấy hàng Bồ-Tát
Sâu vào các thiền định
Thân tâm lặng chẳng động
Để cầu đạo vô thượng.
Lại thấy các Bồ-Tát
Rõ tướng pháp tịch diệt
Đều ở tại nước mình
Nói pháp cầu Phật đạo.
Bấy giờ bốn bộ chúng
Thấy Phật Nhật-Nguyệt-Đăng
Hiện sức thần thông lớn
Tâm kia đều vui mừng
Mỗi người tự hỏi nhau
Việc này nhân-duyên gì?
Đấng của trời người thờ
Vừa từ chánh-định dậy
Khen Diệu-Quang Bồ-Tát
Ông là mắt của đời
Mọi người đều tin về
Hay vâng giữ tạng pháp
Như pháp của ta nói
Chỉ ông chứng biết được
Đức Phật đã ngợi khen
Cho Diệu-Quang vui mừng
Liền nói kinh Pháp-Hoa
Trải sáu mươi tiểu kiếp
Chẳng rời chỗ ngồi ấy
Ngài Diệu-Quang Pháp-sư
Trọn đều hay thọï trì
Pháp thượng diệu của Phật.
Phật nói kinh Pháp-Hoa
Cho chúng vui mừng rồi
Liền chính trong ngày đó
Bảo hàng chúng trời, người
Các pháp “nghĩa thật tướng”
Đã vì các ông nói
Nay ta giữa đêm này
Sẽ vào cõi Niết-bàn
Phải một lòng tinh tấn
Rời các sự buông lung
Các Phật rất khó gặp
Ức kiếp được một lần
Các con của Phật thảy
Nghe Phật sắp nhập diệt
Thảy đều lòng buồn khổ
Sao Phật gấp Niết-bàn?
Đấng Thánh-chúa-Pháp-vương
An ủi vô lượng chúng:
Nếu lúc ta diệt độ
Các ông chớ lo sợ
Đức-Tạng Bồ-Tát đây
Tâm đã được thông thấu
Nơi vô lậu thiệt tướng
Kế đây sẽ thành Phật
Tên hiệu là Tịnh-Thân
Cũng độ vô lượng chúng.
Đêm đó Phật diệt độ
Như củi hết, lửa tắt
Chia phân các xá-lợi
Mà xây vô lượng tháp
Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni
Số đông như hằng sa
Lại càng thêm tinh tấn
Để cầu đạo vô thượng
Diệu-Quang pháp-sư ấy
Vâng giữ Phật pháp tạng
Trong tám mươi tiểu kiếp.
Rộng nói kinh Pháp-Hoa.
Tám vị vương-tử đó
Được Diệu-Quang dạy bảo
Vững bền đạo vô-thượng
Sẽ thấy vô số Phật
Cúng dường các Phật xong
Thuận theo tu đại đạo
Nối nhau đặng thành Phật
Chuyển thứ thọ ký nhau,
Đấng Phật rốt sau cả
Hiệu là: Phật Nhiên-Đăng
Đạo-Sư (29) của thiên tiên
Độ thoát vô lượng chúng.
Diệu-Quang Pháp-sư đó
Có một người đệ tử
Tâm thường cưu biếng trễ
Tham ưa nơi danh lợi
Cầu danh lợi không nhàm
Thường đến nhà sang giàu
Rời bỏ việc tụng học
Bỏ quên không thông thuộc
Vì bởi nhân duyên ấy
Nên gọi là Cầu-Danh
Cũng tu các nghiệp lành
Được thấy vô số Phật
Thuận tu theo đại đạo
Đủ sáu ba-la-mật
Nay gặp đấng Thích-Ca
Sau đây sẽ thành Phật
Hiệu rằng : “Phật Di-Lặc
Rộng độ hàng chúng sanh
Số đông đến vô lượng.
46.
Sau Phật kia diệt độ
Lười biếng đó là ngài
Còn Diệu-Quang Pháp-sư
Nay thời chính là ta.
Ta thấy Phật Đăng-Minh
Điềm sáng trước như thế
Cho nên biết rằng nay
Phật muốn nói “Pháp-Hoa”
Tướng nay như điềm xưa.
Là phương tiện của Phật
Nay Phật phóng ánh sáng
Giúp bày nghĩa thiệt tướng
Các người nay nên biết
Chắp tay một lòng chờ
Phật sẽ rưới nước pháp
Đầy đủ người cầu đạo
Các người cầu ba thừa (30)
Nếu có chỗ nghi hối
Phật sẽ dứt trừ cho
Khiến hết không còn thừa.
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH,MHDT.8/4/2012.
NIỆM HƯƠNG
(Chủ lễ đốt 3 cây hương quỳ trước bàn
Phật nguyện)
Nguyện đem lòng thành kính
Gửi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật Pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm bồ đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.
(xá 3 xá rồi đọc bài kỳ nguyện)

KỲ NGUYỆN
(Đọc thầm)
Hôm nay đệ tử chúng con trì tụng kinh Hạnh Người Xuất Gia nguyện mười phương Chư Phật từ bi gia hộ cho đệ tử chúng con tội diệt, phước sanh, thiện căn tăng trưởng, đạo tâm kiên cố, tinh tấn tu hành, cùng pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam Bảo tiền
Nam mô Hương cúng dường Bồ Tát (3 lần)

(Đứng dậy cắm hương lên lư rồi chắp tay đứng thẳng, tụng bài tán Phật, hoặc hát bài Khúc Tán Ca Tôn Kính Phật).


TÁN THÁN PHẬT
Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng.
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.


KHÚC TÁN CA TÔN KÍNH PHẬT
Kính lạy Đấng Vô Thượng
Người là cành hoa sen
Nơi biển đời nhân thế
Người là nguồn thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Là mặt trời ban mai
Đem ánh sáng cho đời
Dựng lại niềm tin sâu
Nơi tăm tối u sầu.
Quỳ lạy Bậc Chánh Giác
Thầy của khắp trời người
Lòng từ bi bao la
Cha lành chung bốn loài.
Người là một đại dương
Mà con như giọt nước
Người là ngọn cao sơn
Mà con như hạt bụi.
Con xin đảnh lễ Người
Với trọn lòng thiết tha
Quy y và tôn kính
Xin đem trọn cuộc đời
Đi theo bước chân Người
Xa lìa bờ vô minh
Tìm về nơi giác ngộ
Xin theo trái tim người
Để trải lòng thương yêu
Bao dung khắp muôn loài.
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật (2 lần)

LỄ PHẬT
(Hoặc theo nghi thức Bắc tông với danh hiệu cụ thể của một số Phật, Bồ Tát)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả chư Phật. (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả chánh Pháp. (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng. (1 lạy)

KHAI KINH
Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe được xin trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

KINH HẠNH NGƯỜI XUẤT GIA
Tôi đã nghe như vầy
giữa thế gian triền phược
đức Như Lai ra đời
là bậc A La Hán
là vị Phật Thế Tôn
sau khi đã chứng ngộ
Ngài tuyên giảng con đường
đưa đến bờ giải thoát
Rồi một người cư sĩ
dù thuộc giai cấp nào
sau khi nghe pháp ấy
khởi lên lòng kính ngưỡng
đối với đức Như Lai
tự nghĩ sống ở đời
đầy những điều ràng buộc
bụi bặm và khổ đau
khó thể nào đạt được
hạnh thanh tịnh hoàn toàn
trắng trong như vỏ ốc
chỉ đời sống xuất gia
phóng khoáng như hư không
mới có thể giúp ta
đến bến bờ giải thoát.
Rồi vị ấy từ bỏ
tài sản và gia đình
khoác ca-sa cạo tóc
làm một vị Sa-môn.
Sau khi đã xuất gia
vị ấy sống chế ngự
bằng giới bổn mộc-xoa (Mokkha)
đủ oai nghi chánh hạnh
Vị ấy Thấy Nguy Hiểm
Trong Từng Lỗi Nhỏ Nhặt
lời nói và việc làm
luôn giữ gìn thanh tịnh,
thủ hộ các giác quan
không đắm nhiễm bên ngoài,
sống cuộc đời thanh bai
giản đơn và tri túc.
Thế nào là Tỳ kheo
có giới hạnh cụ túc ?
Đó là một Tỳ kheo
đã từ bỏ sát sanh
xa lìa các vũ khí
và thương yêu tất cả
Đó là vị Tỳ kheo
đã từ bỏ gian tham
không trộm cắp của người
không mong nhiều sở hữu.
Đó là vị Tỳ kheo
đã xa lìa tính dục
phạm hạnh được giữ gìn
trắng trong và trọn vẹn.
Đó là vị Tỳ kheo
tránh xa sự nói dối
chỉ nói bằng sự thật
cho những người đáng nghe.
Không nói lời chia rẽ
làm thù hận phát sinh
chỉ nói lời hòa vui
để yêu thương xuất hiện.
Vị ấy không bao giờ
nói lên lời ác độc
chỉ nói lời từ ái
tao nhã đẹp lòng người.
Vị ấy cũng tránh xa
những lời nói khoe khoang
hơn thua và hiếu thắng
để gìn giữ khiêm cung.
Đó là vị Tỳ kheo
biết tôn trọng cỏ cây
biết giữ gìn sự sống
của tất cả mọi loài.
Không ăn uống phi thời
không dự xem nhạc kịch
Từ bỏ các vòng hoa
hương thơm và vàng bạc.
Vị ấy cũng khước từ
chăn nuôi và buôn bán
tôi tớ và đất đai
tham lam hay lừa đảo.
Vị Tỳ kheo như thế
tâm bình thản an vui
không ăn năn lo sợ
vì không phạm lỗi lầm.
Rồi vị Tỳ kheo ấy
gìn giữ các giác quan
không đắm theo ngoại cảnh
dù ít hay là nhiều.
Vị ấy luôn tự xét
từ một nguyên nhân nào
khiến tâm chìm theo cảnh
để mà tự khắc phục.
Vị Tỳ kheo như thế
tâm tự tại an vui
không tối tăm vẫn đục
vì không nhiễm thế trần.
Rồi vị Tỳ kheo ấy
khi đi tới, đi lui
khi nhìn quanh, nhìn thẳng
đều rõ ràng tỉnh giác
thường hằng kiểm soát tâm.
Khi co tay, duỗi tay
khi đắp y, mang bát
đều rõ ràng tỉnh giác
thường hằng kiểm soát tâm.
Khi uống ăn nhai nuốt
khi đi đứng nằm ngồi
khi lặng yên, lên tiếng
đều rõ ràng tỉnh giác
thường hằng kiểm soát tâm.
Từ bao nhiêu công hạnh
của một người xuất gia
như giữ gìn giới luật
sống đời sống giản đơn
thủ hộ các giác quan
và tinh tấn chánh niệm.
Vị Tỳ kheo như thế
sẽ tìm chốn hoang vu
như gốc cây, khe suối
hoặc hang núi, chòi tranh
ngồi như một đóa sen
thẳng lưng và bất động
với chánh niệm rạng ngời
rõ ràng ngay trước mắt.
Rồi từ một nội tâm
sáng trong và yên tĩnh
tham ái được diệt trừ
sân hận được vượt qua
lòng Từ mẫn bao la
thương yêu cho tất cả.
Rồi từ một nội tâm
sáng trong và yên tĩnh
nên hôn trầm, trạo hối
và do dự lìa xa
Như một người thoát ra
khỏi gông cùm xiềng xích
như một người vượt qua
khỏi sa mạc khô khan
gặp dòng sông nước mát
cũng vậy, Tỳ kheo ấy
diệt năm triền cái rồi
được hân hoan hạnh phúc.
Từ niềm hân hoan trên
Tâm càng thêm định tĩnh
Bất thiện pháp xa lìa
Sơ thiền được chứng đạt
đó là một trạng thái
tham dục được vượt qua
nên hỷ lạc tràn đầy
dù vẫn còn niệm tế
Không tự mãn Sơ thiền
Tỳ kheo ấy nhiếp tâm
diệt trừ niệm vi tế
và chứng đạt Nhị thiền.
Đó là một trạng thái
hỷ lạc do định sanh
rất thênh thang mầu nhiệm
tâm cực kỳ yên tĩnh.
Không tự mãn Nhị thiền
Tỳ kheo ấy nhiếp tâm
dừng hoạt động giác quan
để chứng đạt Tam thiền
đó là một trạng thái
vào chánh định rất sâu
với an lạc vi diệu
tận cùng không bờ bến.
Không tự mãn Tam thiền
Tỳ kheo ấy nhiếp tâm
trừ mọi cảm thọ trước
để chứng đạt Tứ thiền.
Đó là một trạng thái
đã bất động hoàn toàn
không cảm thọ khổ vui
và vô cùng sáng suốt.
Rồi từ một nội tâm
đã bất động hoàn toàn
Tỳ kheo ấy hướng tâm
nhớ về vô lượng kiếp
qua từng chỗ thọ sanh
với giai cấp, dòng họ
khổ vui và tên tuổi
rất chi tiết rõ ràng
và như vậy, Vị ấy
thành tựu Túc Mạng Minh
Rồi từ một nội tâm
đã bất động hoàn toàn
Tỳ kheo ấy hướng tâm
xem chúng sanh lưu chuyển
qua mỗi kiếp luân hồi
nhận quả báo khổ vui
theo nghiệp duyên thiện ác
không một chút sai lầm
và như vậy, Vị ấy
thành tựu Thiên Nhãn Minh.
Rồi từ một nội tâm
đã bất động hoàn toàn
Trí tuệ được khởi lên
vô minh được chấm dứt
Vị ấy biết rõ ràng
như thế nào là Khổ
hay Nguyên Nhân Của Khổ
thế nào là Giải Thoát
và Đường Về Giải Thoát
và như vậy, Vị ấy
chứng đạt Lậu Tận Minh.
Từ chánh trí như trên
Vị ấy tự biết mình
đã dừng lại Luân hồi
đã viên thành Phạm hạnh
đã hoàn toàn giải thoát.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Không truy tìm quá khứ
Không ước vọng tương lai
Quá khứ đã qua rồi
Tương lai lại chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính là đây
Bất động chẳng lung lay
Hãy thực hành như thế
Không một ai biết trước
Cái chết đến lúc nào
Tử thần có đợi đâu
Làm sao điều đình được
Vì thế nên nỗ lực
Tinh tấn suốt đêm ngày
Tỉnh giác từng phút giây
An trú bằng chánh niệm
Như vậy mới xứng đáng
Người biết sống một mình
Kẻ ấy đã tôn vinh
Đạo nhiệm mầu vô thượng.

LỜI KHẤN NGUYỆN
Kính lạy mười phương Phật
Kính lạy mười phương Pháp
Kính lạy mười phương Tăng
Xin chứng giám lòng con
Với tất cả tâm thành
Dâng lên lời khấn nguyện
Xin cho con mãi mãi
Lòng tôn kính vô biên
Hơn núi biển mông mênh
Dâng lên mười phương Phật
Xin cho con mãi mãi
Lòng thương yêu không cùng
Trải thế giới tam thiên
Đến chúng sinh vô tận
Xin cho khắp muôn loài
Sống yên lành bên nhau
Không ganh ghét oán thù
Không chiến tranh giết chóc
Xin cho kẻ bất thiện
Biết tin có luân hồi
Có nghiệp báo trả vay
Để hồi đầu hướng thiện
Xin kẻ mù được sáng
Kẻ điếc lại được nghe
Kẻ nghèo được ấm no
Kẻ ốm đau bình phục
Xin cho loài cầm thú
Thoát được nghiệp ngu si
Tái sinh vào cõi người
Biết tu theo Phật Pháp
Các vong linh vất vưởng
Trong cõi giới u huyền
Thoát nghiệp đói triền miên
Quy y và siêu thoát
Xin cho nơi địa ngục
Chúng sinh đang đọa đày
Khởi được tâm từ bi
Để xa lìa cảnh khổ
Cúi xin mười phương Phật
Chư Bồ Tát Thánh Hiền
Đem chánh pháp thiêng liêng
Sáng soi nghìn thế giới
Cho chúng con mãi mãi
Dù sinh về nơi đâu
Đều gặp pháp nhiệm mầu
Để nương theo tu tập
Cho con biết khiêm hạ
Biết tôn trọng mọi người
Tự thấy mình nhỏ thôi
Việc tu còn kém cỏi
Cho tay con rộng mở
Biết san sẻ cúng dường
Biết giúp đỡ yêu thương
Đến những người khốn khó
Xin cho con bình thản
Trước nghịch cảnh cuộc đời
Dù bị mắng bằng lời
Hay bằng điều mưu hại
Xin tâm con sung sướng
Khi thấy người thành công
Hoặc gây tạo phước lành
Như chính con làm được
Cho con biết im lặng
Không nói lỗi của người
Chỉ lặng lẽ dùng lời
Cầu cho người hết lỗi
Xin vòng dây tham ái
Rời khỏi cuộc đời con
Để cho trái tim con
Biết yêu thương tất cả
Cúi lạy mười phương Phật
Đau khổ đã nhiều rồi
Vô lượng kiếp luân hồi
Đắng cay và mỏi mệt
Nay con dâng lời nguyện
Giải thoát, quyết tìm về
Giác ngộ, quyết lìa mê
Độ sinh, đền ơn Phật
Xin cho con giữ vững
Được chí nguyện tu hành
Không một phút buông lơi
Không một giờ xao lãng
Xin vẹn toàn giới hạnh
Với thiền định lắng sâu
Với trí tuệ nhiệm mầu
Xóa tan dần chấp ngã
Xin cho con tỉnh táo
Không kiêu mạn tự hào
Dù tu tiến đến đâu
Vẫn tự tìm chỗ dở
Nguyện cho con đi mãi
Không đứng lại giữa đường
Đến tuyệt đối vô biên
Tâm đồng tâm chư Phật
Rồi trong muôn vạn nẻo
Của sinh tử luân hồi
Con mãi mãi không thôi
Độ sinh không dừng nghỉ
Cúi lạy mười phương Phật
Xin chứng giám lòng con
Lời khấn nguyện sắt son
Dâng lên ngôi Tam Bảo
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
PHỤC NGUYỆN
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đương Lai Từ Phụ Di Lặc Tôn Phật
Nam Mô đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Hôm nay đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài trì tụng kinh Từ Tâm và Lời Khấn Nguyện
Cầu nguyện:
Đạo pháp sáng soi, giáo lý rộng truyền.
Vì đạo quên mình, bốn ơn nặng nhớ
Thế giới hòa bình hết khổ đao binh
Mưa nắng thuận hòa chúng sinh an lạc.
Đại chúng tiến tu tỉnh rõ lỗi lầm
Rộng mở từ tâm vì người làm gốc
Chốn chốn già lam tỏa hương đạo đức
Cho cả muôn loài quy phục tựa nương
Hết thảy vong linh trong cõi siêu hình
Bỏ ác làm lành, quy y Tam Bảo
Pháp giới rộng trùm ba cõi bốn loài
Đồng thoát luân hồi trọn thành Phật đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lần)


TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sinh hiểu sâu đạo cả, phát tâm vô thượng (1 lạy)

• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)

• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

VÌ ĐẠO THIÊNG (Đồng ca)
Đạo thiêng như ánh trăng soi trên ngàn thế gian
Từ bi ấm áp xua tan ưu sầu khóc than
Đời thôi bớt điêu tàn, tình thương sẽ tuôn tràn
Tiếng chuông dịu dàng lòng con trầm lắng.
Từ đây cho đến vô biên vô tận kiếp sau.
Nguyện đem chánh pháp, cho nhau quên ngàn nỗi đau.
Lời Kinh rất sâu mầu, quỳ dâng những nguyện cầu.
Trái tim xin vì Đạo thiêng khát khao.
Đời là những đắng cay vui buồn ghét thương.
Kiếp nhân sinh lệ tuôn trên khắp nẻo đường.
Rồi Phật Pháp giúp ta qua ngàn muôn hướng
Để hôm nay ta sống cho nhau đẹp ngời
Thân và tâm nguyện xin dâng đến Như Lai
Trọn cuộc sống bước chân vững vàng đi tới
Ánh Đạo mầu tỏa sáng tấm lòng muôn nơi.
Vì Đạo thiêng, xin thương mến cả nhân sinh
Vì Đạo thiêng, xin đem hết lòng tôn kính
Trước đài sen mong khắp nơi vui thanh bình
Những ân tình như biển triều dâng sóng lên.
Vì Đạo Pháp ta đi gieo rắc ngàn nơi
Với con tim bao la như ánh mặt trời
Giữa cuộc đời Phật đạo bừng lên nắng tươi
Vui bên nhau hạnh phúc thênh thang rạng ngời. (2 lần).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).7/4/2012.TAM THANH,MHDT.

Wednesday, 4 April 2012


NGHI THỨC THỈNH ĐẠI HỒNG CHUNG




Kệ Đã dịch Thành âm Nghĩa Tiếng Việt.
Trước khi vào Thỉnh Đại Hồng Chung, Phải hồi 3 hồi Khánh (chuông nhỏ) lại 4 tiếng, rồi tiếp Hồng chung.
Thức Hồng Chung 7 tiếng nhỏ và 3 tiếng lớn.

Nguyện tiếng chuông nầy ngân khắp cõi
Thiết-vi ngục tối thảy xa nghe
Cõi trần trong sạch đều thông suốt
Giác ngộ sanh linh cả mọi loài. (0)
Nghe chuông phiền não nhẹ lâng lâng
Bồ đề thêm lớn Tuệ sáng ngần
Xa rời Địa-ngục qua hầm lửa
Nguyện thành như Phật độ chúng sanh. (0).

Thần chú : Phá địa ngục :
Aùn Già Ra Đế Da Tóa Ha . (hay : Ta bà ha) 3 lần.

Sơ khấu : (khấu thỉnh đoạn nhứt)
Hồng chung khởi thỉnh tiếng ban đầu,
Bảo kệ ngâm cao thoát nhiệm mầu,
Trên thấu Thiên đàng vui an lạc
Dưới thông Địa ngục diệt đau sầu ! (0) !
*Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

 Nhị khấu :  (khấu thỉnh đoạn hai)
Hồng chung khấu thỉnh lần thư hai,
Bảo kệ ngâm cao giọng ngân dài,
Trên thấu thiên đường trời niệm Phật
Dưới thông địa ngục ngục tiêu tai. ! (0).
*Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

Tam khấu : (khấu thỉnh đoạn ba)
Hồng chung kính thỉnh lần thứ ba,
Bảo kệ ngân cao chiếu bảo tòa,
Trên thấu thiên đường thông sáu nẻo,
Dưới sâu địa ngục độ bao la. ! (0)
*Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

Kính nguyện : (lời chúc)
Nguyện cầu Phật Nhựt Tăng Huy,
Pháp luân thường chuyển gió hòa dân an,
Tứ Sinh Ba cõi nhờ ân,
Luân hồi sáu đạo lụy thân đã nhiều
Nguyện cầu báo chướng đều tiêu ,
Mười loài Chín cõi  An, Siêu vẹn toàn ! (0).
Trần gian duyên nghiệp lầm than 
Nguyện tiêu tất cả tội mang nhiều loài .
Bão lụt đói khát nạn tai,
Nam hòa Đông thuận như đời Thuấn Nghiêu !(0).
Nghiệp phiền khổ chướng tiêu diêu,
Trận vọng binh tướng nguyện siêu liên hồng
Nhân hòa địa lợi đều thông,
Chim bay thú chạy bẫy vòng chớ vương. (0).
Cô thân lãng tử tha hương
Mau về quê mẹ trọn thương nghĩa tình
Nguyện cầu Chư Phât độ sinh
Vô biên thế giới  đất trời gần xa, (0)
Viễn cận Tăng tín đàn na
Thiền môn an tịnh lợi tha đạo vàng
Long thần thổ địa hân hoan,
Hộ Tăng hộ pháp đạo tràng hưng long.
Me,ï cha, sư, hữu tồn vong,
Mất còn lợi lạc vẫn trong chơn thường.(0).
Đồng về bến giác quê hương,
Đồng đăng bỉ ngạn Tây-Phương DI ĐÀ.

*Nam MôThanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. (0).
*Nam Mô Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật. (0)
*Nam Mô Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật. (0)
*Nam Mô Đương Lại  Từ-Thị Hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. (0)
*Nam Mô Cực Lạc Thế Giới  Từ Phụ Tiếp Dẫn A Di Đà Phật. (0)
*Nam Mô Thập Phương Tam Thế Nhứt Thế Chư Phật. (0).
*Nam Mô Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đa La Ni. (0)
*Nam Mô Đại Phương Quảng Phật, Hoa Nghiêm Kinh, Hoa Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát. Ma Ha Tát (0).
*Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)
*Nam Mô Từ Hàn Cứu Khổ Đai Bi Linh Cảm Quan Thế Aâm Bồ Tát Ma Ha Tát.(0)
*Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)
*Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vường Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. (0)
*Nam Mô Già Lam Thánh Chúng, Thiên Long Bát Bộ Nhứt Thiết Chư Thiện Thần. (0)

Nguyện :
Mười phương ba đời đấng Như Lai
Tám mươi tám Phật, tọa bảo đài;
Sáu nẻo sanh linh cầu cứu khổ ,
U Linh mười loại thoát trần ai. (0).

Nam Mô Siêu Tịnh Độ Bồ tát . 3L. (0).

Thán :
Chùy chạm chuông ngân chín chục lần,
Chúng Tăng thanh tịnh lộ nghiêm thân,
Bốn thời tinh tấn tham thiền tịnh
Nhẹ bước rời đơn niệm độ sinh. (0).
Kệ :
Trăm tám chuông vàng lễ Phật danh
Trên thông dưới thấu diệu vô ngần
Sáu nẻo sinh linh cầu giải cứu
U đồ thập loại thoát hỏa khanh. (0).

Nam Mô Siệu Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát .
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.  3L (0000).
_________________________________________________

Bài kệ Chuông Nguyên Hán bản  :

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới
Thiết vi u ám tất giai văn
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác. (0).
Văn chung thinh phiền não khinh
Trí tuệ trưởng Bồ Đề sanh,
Ly Địa ngục xuất hỏa khanh
Nguyện thành Phật độ chúng sanh,. (0).
Aùn Gìøa Ra Đế Gia Tóa Ha (Ta Bà Ha). 3L (0).

Sơ khấu :
Hồng chung sơ khấu, Bảo kệ cao âm, Thượng triệt thiên đường,
Hạ thông địa phủ. (0). *Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu Khổ Bổn Tôn, Cứu Bạt Minh Đồ,Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

Nhị khấu :
Hồng chung nhị khấu   : ….(giống như Sơ khấu     (0).
Hồng chung Tam khấu :.… (giống như Sơ khấu ….(0).

Ngưỡng nguyện :
Thượng chúc Phật nhựt tăng huy, Pháp luân thường chuyển, Phong điều võ thuận, Quốc thới dân an, Xứ xứ hưởng thái bình chi lạc.(0), 
-Phổ nguyện :
Tam giới tứ sanh chi nội, các miễn luân hồi, Cửu U thập loại chi trung tất ly khổ hãi. (0). Ngũ phong thập võ, miễn tao cơ cẩn chi niên, Nam mẫu đông giao, cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt, Can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh, trận bại thương vong, cu sanh Tịnh Độ. (0). Phi cầm tẩu thú, La võng bất phùng, Lãng tử cô thương, tảo hoàn hương tĩnh. (0). Vô biên thế giới, địa cửu thiên trường, viễn cận đàn na, tăng diên phước thọ.(0). Sơn môn trấn tịnh, Phật Pháp thường hưng, Thộ địa long thần, an tăng hộ pháp. (0). Phụ mẫu Sư trưởng, lục thân quyến thuộc, lịch đại tiên vong, Đồng đăng bỉ ngạn.(0).

*Nam MôThanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. (0).
*Nam Mô Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật. (0)
*Nam Mô Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật. (0)
*Nam Mô Đương Lại  Hạ sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật. (0)
*Nam Mô Cực Lạc Thế Giới  Từ Phụ Tiếp Dẫn A Di Đà Phật. (0)
*Nam Mô Thập Phương Tam Thế Nhứt Thế Chư Phật. (0).
*Nam Mô Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đa La Ni. (0)
*Nam Mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Hoa Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát. Ma Ha Tát (0).
*Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)
*Nam Mô Từ Hàn Cứu Khổ Đai Bi Linh Cảm Quan Thế Aâm Bồ Tát Ma Ha Tát.(0)
*Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)
*Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
*Nam Mô Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. (0)
*Nam Mô Già Lam Thánh Chúng, Thiên Long Bát Bộ Nhứt Thiết Chư  Vị Thiện Thần. (0)

Kệ:
Thập phương Tam Thế Thất Như Lai
Bát thập Bát Phật Tọa Bảo Đài
Lục đạo chúng sanh mông giải khổ
Cửu U thập loại thoát trần ai. (0).
*Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát. 3L (0).

Thán :
Chung thinh cửu thập hựu lôi chùy
Tịnh diện tăng già đẳng đẳng tri
Tham phỏng tứ thời tuân khổ chế
Hạ đơn lưỡng bộ các oai nghi. (0).

 (Đến đây hoàn chung, để tụng kinh : Tịnh-độ 8.00 tối./ Lăng nghiêm 5.00 sáng)

Kệ hoàn chung :
Bát bát chung thinh hướng Phật tiền
Thượng thông hạ triệt lạc vô biên
Lục đạo chúng sanh mông thoát khổ
Cửu u thập loại xuất khanh nhiên.
*Nam Mô Đăng Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. (0000).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH,MHDT.4/4/2012.

Cúng Đại Bàng


Cúng Đại Bàng là một nghi thức quan trọng trong lễ cúng Quả Đường mỗi buổi trưa ở các tự viện theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, đặc biệt là mùa An Cư Kiết Hạ hằng năm. Theo lời thuật lại trong khế kinh, ngày kia Đức Phật đi du hóa gặp một con chim Đại Bàng bắt các loài chim nhỏ ăn thịt. Chim Đại Bàng này có chiều kích rất lớn, mỗi lần há miệng, một hơi hút của nó chiếm một phạm vi nhiều cây số, tất cả các loài chim nhỏ đều bị cuốn hút vào miệng nó. Thấy việc sát sanh quá nhiều nên Đức Phật đã từ bi giáo hóa. Ngài dạy rằng “ tất cả chúng sanh đều ham sống sợ chết, do đó chớ giết và chớ bảo giết”. Chim Đại Bàng tự nghĩ: “thực phẩm hằng ngày của mình là thịt sống của các loài chim, nay Phật không cho ăn, lấy gì để nuôi thân mạng này”. Phật dạy: “từ đây về sau ngươi về chùa nào gần nhất để quý Tăng Ni cho ăn”. 
Tương tự như nghi thức cúng cháo Mông Sơn Thí Thực buổi chiều, Nghi thức cúng Đại Bàng buổi trưa được phát xuất từ đó, và hơn hai ngàn năm nay truyền thống này vẫn tiếp tục gìn giữ và duy trì. Có người thắc mắc rằng, sao chỉ cúng bảy (7) hạt cơm, có thể làm no đủ loài đại bàng, và 7 hạt cơm có thể thay thể được thịt sống? Theo như trong bài kệ ghi rằng “ Pháp lực bất tư nghì, từ bi vô chướng ngại, thất liệp biến thập phương, phổ thí châu sa giới” Nghĩa là: “Pháp lực khó nghĩ bàn, từ bi vô giới hạn, bảy hạt biến mười phương, biến khắp cõi vô biên”. Các Hòa Thượng cũng dạy rằng do nguyện lực của thần chú của Phật mà bảy hạt cơm kia sẽ biến thành cam lồ pháp nhũ khiến cho loài Đại Bàng ăn no đủ, nhờ lực gia trì của thiện niệm. 
Tôi nhớ lại thời gian hành điệu, làm thị giả, cúng Đại Bàng là thời gian hồn nhiên, đẹp đẽ  đáng ghi nhớ nhất. Tôi được Sư Phụ gởi xuống làm thị giả cho Hòa Thượng Trí Nghiêm & HT Thiện Siêu trong các mùa An cư Kiết Hạ từ những năm 81 đến năm 1984 tại Chùa Hải Đức, Nha Trang. Chùa Hải Đức từng là Phật Học Viện Trung Phần, nơi đào tạo các bậc tăng tài cho PGVN do Cố HT Trí Thủ khai sáng, do vậy sau 1975, có nhiều Thầy con lưu lại nơi này. Lúc ấy tôi nhớ có Ôn Từ Đàm, Ôn Trừng San, TT Phước An, TT Phước Quảng, TT Phước Lượng, TT Chánh Lạc, TT Huệ An, TT Trí Viên, TT Thiện Vinh, TT Minh Châu, TT Minh Thông, TT Chơn Trí, TT Thiện Tu, TT Nguyên Quang… về Sa di thì có Chú Phượng, chú Pháp Đăng..  cảnh trí nơi đây hùng vĩ, cây cối rợp bóng xanh tươi, nhất là con đường đất từ Chùa Long Sơn dẫn đến Chùa Hải Đức luôn phủ một màu đỏ của hoa phượng vĩ.  
Năm đầu tiên tôi được dạy đến trình diện Ôn Trừng San, Trụ Trì Chùa Hải Đức, Ôn là một bậc danh tăng giới đức của PG Khánh Hòa; Ôn có người em ruột cũng xuất gia tu hành và đang làm trú trì Chùa Nghĩa Trũng ở Diên Khánh, Khánh Hòa. Ôn Trừng San tướng người cao lớn và đẹp đẽ, Ôn giỏi về nghi lễ, mặc dù là người Khánh Hòa nhưng lại nổi tiếng trong khoa nghi chẩn tế theo truyền thống Huế. Ôn bảo tôi hô Đại Bàng nghe thử, tôi liền bắt ấn cam lồ đưa lên trán và bắt đầu hô:
 


Đại Bàng Kim Sí Điểu
Khoáng Dã Quỹ Thần Chúng
La Sát Quỹ Tử Mẫu
Cam Lồ Tất Sung Mãn.
Án Mục Đế Tóa Ha
( 7 lần).
 Dịch nghĩa:
“Chim Đại Bàng cánh vàng
Chúng quỷ thần dã hoang
Cùng mẹ con La sát
 Hương cam lồ sung mãn”.
Ôn nghe xong lắc đầu vì tôi hô tệ quá. Sau đó Ôn chỉ dạy luyện giọng cho tôi, cuối 3 câu đầu phải lên giọng, cuối câu thứ 4 phải xuống giọng, câu thần chú phải hô đúng 7 lần và phải ngắt ra làm 3 lần, 2 lần đầu mỗi lần 3 biến, và lần ba 1 biến, kéo dài ra và xuống giọng. Khi thử hô vài lần, Ôn Trừng San hoan hỷ gật đầu và thế là tôi trở thành thị giả tống thực trong suốt bốn năm sau đó tại Chùa Hải Đức. Cứ mỗi trưa, tôi giữ trách nhiệm lo chén súc sanh, đánh khánh, cúng đại bàng và làm thị giả cho hai Ôn Trí Nghiêm và Ôn Từ Đàm (HT Thiện Siêu). Thỉnh thoảng tôi được đi làm thị giả cho Ôn Trí Nghiêm ở Ni Viện Diệu Quang, Chùa Kim Quang hoặc Chùa Tỉnh Hội Long Sơn để hô đại bàng, rồi tôi cũng có dịp hầu quả đường và hô đại bàng khi Ôn Hưng Từ (từ Phan Thiết) ra cúng ở Nha Trang.  
Thông thường, công việc làm thị giả và hô đại bàng của tiểu Tăng, tiểu Ni, hoặc các vị mới xuất gia. Từ ngày xuất gia đến giờ tôi được nghe rất nhiều chú tiểu hô đại bàng, có người hô rất hay, nhưng có người hô nghe không được, cũng có người chế biến cách hô nghe rất lạ (có người hô 4 câu đầu đến 3 lần). Từ ngày ra hải ngoại đến nay, tôi cũng được nghe nhiều vị mới xuất gia hô đại bàng, nhưng vào năm ngoái, trong khóa An Cư tại Tu Viện Quảng Đức, chú Hạnh Đức (đệ tử của Thượng Tọa Như Điển) hô đại bàng rất hay, đúng giọng điệu và rõ ràng.  
Trên đây là một chi tiết rất nhỏ trong sinh hoạt thiền môn, nhưng nếu tinh tế để ý quán xét, chúng ta thấy bậc giáo chủ của đạo Phật dùng nhiều phương tiện độ sanh ngoài sức nghĩ bàn của phàm tình thế nhân. Lòng từ bi của đức Phật tỏa rộng khắp vạn loại sanh linh, kể cả cỏ cây, đất đá, núi sông, khe biển…truyền đạt cho hàng đệ tử xuất gia hành trì, do vậy là đệ tử của Như Lai (Phật Thích Ca) không thể không thực hiện được hạnh từ bi, lợi tha của bậc đại giác Thế Tôn. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.MHDT.4/4/2012.
NGHI THỨC CÚNG QUÁ ÐƯỜNG
 --- o0o ---
Giới tử đứng trước bàn ăn nghe tiếng khánh chắp tay đồng xá rồi ngồi xuống. Sau nghe ba hồi bảo chúng, đồng tụng bài cúng dường. (Tay trái bắt ấn Tâm sơn, tay mặt kiết ấn Tam Muội để dựa ngang phía trong miệng bát, rồi dâng lên ngang tán đồng tụng bài cúng dường) 
1-Cúng dường
Cúng dường Thanh tịnh Pháp Thân Tì Lô Gía Na Phật.
Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật.
Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật.
Ðương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phaät.
Cực Lạc Thế Giới A  Di Ðà Phật.
Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật.
Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Ðại Bi Quán Thế AÂm Bồ Tát, Chư
Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. (Cúng dường rồi để bát xuống)   
2-Xuất Sanh
Giới sư để 1 cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, quyết ấn cam lồ mặc niệm: Pháp lực bất tư nghì. Từ bi vô chướng ngại. Thất liệp biến thập phương. Phổ thí châu sa giới.Án độ lợi ích tá ha. (3 lần)
Ðồng  tụng: Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng(3 lần)
Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô tà bà
ha. (3 lần). Án Nga nga naúng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần)
Chủ lễ thầm nguyện: Nhữ đẳng quỉ thần chúng. Ngã kim thí nhữ cúng. Thử thực biến thập phương. Nhất thiết quỉ thần cộng. Án mục lăng tá bà ha. (3 lần) 
3-Tống thực: (Thị giả):  Ðại Bàng Kim Xí Ðiểu, Khoáng dạ quỷ thần chúng, La sát quỷ tử mẫu, Cam lồ tất sung mãn. Án mục đế tóa ha. (7 lần) (nghĩa: Chim đại bằng cánh vàng, chúng quỉ thần đồng rộng, mẹ của quỉ la sát, cam lộ no đủ cả.) 
4-Xướng Tăng Bạt (Thầy chủ lễ): Phật chế Tỷ kheo, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu, đại chúng, văn khánh thanh, các chánh niệm. Nam Mô A Di Ðà Phật. (Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng chánh niệm). 
5- Hai tay bưng bát cơm đưa lên trán và thầm đọc: Chấp trì Ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ thiên nhân cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra (3 lần). (dịch nghĩa:Tay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận trời người cúng dường) 
6- Gắp ba miếng cơm rồi thầm nguyện: 1.Nguyện đoạn nhất thiết ác. 2. Nguyện tu nhất thiết thiện. 3.Thệ độ nhất thiết chúng sanh. (1. Nguyện dứt tất cả điều ác, 2. Nguyện làm tất cả điều lành, 3. Nguyện độ tất cả chúng sanh). 
7-Bắt đầu ăn và thầm quán tưởng ‘Năm pháp quán’:
Thứ nhứt: Con xin biết ơn người đã phát tâm cuùng dường, sửa soạn những thức ăn này.
Thứ hai: Con nguyện nổ lực tu học, trao dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này.
Thứ ba: Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn.
Thứ tư: Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật.
Thứ năm: Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ con thọ dụng những thức ăn này. 
8-Aên cơm xong, trước khi uống nước, xin thầm đọc: Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (3 lần). (nghĩa: Phật nhìn một bát nước, tám vạn tư vi sinh, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh.  
9.Tụng bài  Kiết Trai: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha (7 lần)
Sở vị bố thí giả, Tất hoạch kỳ lợi ích, Nhược vị nhạo bố thí, Hậu tất đắc an lạc. Phạn thực dĩ ngật, Ưương nguyện chúng sanh, Sở tác giai biện, Cụ chư Phật Pháp. 
10-Phục nguyện (Thầy chủ lễ xướng): Thân Phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao, nhựt thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ. Phổ Nguyện đàn na tín thí, tăng ích phước điền, pháp giới chúng sanh, đồng thành Phật Ðạo. Ðồng niệm: Ðại chúng đồng niệm: Nam mô A-Di-Ðà Phật, nghe khánh cùng đứng dậy chắp tay xá và lui ra. 
11. Niệm Phật Kinh Hành: A-Di-Ðà Phật thân kim sắc, Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân, Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di, Cám mục trừng thanh tứ đại hải. Quang trung hóa Phật vô số ức, Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên, Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn. Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi A-Di-Ðà Phật. Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (108 lần) Nam-mô Ðại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát. (3 lần); Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần) Nam-moâ Ðại-Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần); Nam-mô Thanh-tịnh Ðại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần) 
Hồi Hướng:  Nguyện đem  công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật Ðạo. Nam Mô A Di Ðà Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.MHDT.4/4/2012.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: